Vốn cổ phần là gì?
Vốn cổ phần tạo ra tiềm năng lớn cho sự tăng trưởng vốn và đó chính là vốn đầu tư rủi ro dài hạn. Nó bao gồm cổ phần của công ty, chứng minh sự sở hữu một phần của nhà đầu tư trong một công ty nhất định nào đó. Sự sở hữu vốn cổ phần thường mang lại cho các nhà đầu tư một một phần chia lợi nhuận thông qua cổ tức.
Vốn cổ phần
Thu nhập cố định từ chứng khoán
Những khái niệm khác
Cổ phiếu là giấy chứng nhận một phần vốn của chủ sở hữu trong một đơn vị kinh doanh. Cổ đông là những người sở hữu đơn vị kinh doanh và cùng nhau chia sẻ sự thành công hoặc thất bại trong hoạt động kinh doanh. Hoạt động kinh doanh có thể thường được đánh giá bởi số cổ tức mà cổ đông nhận được và qua giá của cổ phiếu được niêm yết trên thị trường chứng khoán. (Cổ phiếu cũng thường được nhắc đến như vốn.)
Sau đây là một số loại cổ phiếu khác nhau được giao dịch tại Bursa Malaysia:
a. Cổ phiếu phổ thông
Cổ phiếu phổ thông còn được gọi là cổ phiếu vốn, và đây là vốn rủi ro của một công ty. Cổ phiếu phổ thông đem lại cho cổ đông các quyền sở hữu trong công ty, chẳng hạn như quyền chia sẻ lợi nhuận, quyền biểu quyết trong đại hội đồng và quyền được bầu chọn và cách chức giám đốc. Trách nhiệm của người sở hữu cũng được thảo luận và điều này có thể dẫn đến sự thua lỗ tiền của một nhà đầu tư nếu công ty không thành công. Cổ phiếu phổ thông thường hình thành nên số lượng lớn vốn đầu tư của một công ty và không có đặc quyền nào đối với các loại cổ phiếu khác. Trong trường hợp thanh lý, cổ phiếu phổ thông xếp sau tất cả những khoản nợ khác của công ty.
b. Cổ phiếu ưu đãi
Đây là loại cổ phiếu được quyền chia cổ tức (thường được ấn định) được xếp vào các khoản thanh toán trước cổ tức của cổ đông phổ thông. Cổ phiếu ưu đãi có thể được ưa thích hơn về mặt phân bổ tài sản dựa trên sự giải thể của công ty.
Nhìn chung cổ phiếu ưu đãi không được quyền biểu quyết, tuy nhiên quyền biểu quyết có thể có dựa trên việc không có khả năng chi trả cổ tức cho cổ phiếu ưu đãi trong một thời gian xác định.
Sau đây là một số loại cổ phiếu ưu đãi:
| |
i. Cổ phiếu ưu đãi tham gia: được quyền tham gia vào lợi nhuận hơn là chỉ cổ tức cố định như là cổ tức giao động tăng thêm nếu công ty thành công.
ii. Cổ phiếu ưu đãi tích lũy là loại cổ phiếu ưu đãi mà ngoài những đặc quyền được nhận cổ tức cố định trước cổ phiếu phổ thông, còn có thêm quyền có thể khất lại cổ tức ưu đãi.
iii. Cổ phiếu ưu đãi phí tích lũy là loại cổ phiếu ưu đãi không được quyền khất lại cổ tức.
iv. Cổ phiếu ưu đãi mua lại có thể được công ty mua lại với giá bán lại đã được ấn định trên một thông báo trước trong một khoảng thời gian. Thông thường thì giá mua lại được ấn định cao hơn mệnh giá để bù đắp cho chủ sở hữu nhũng tổn thất không mong muốn của việc đầu tư.
v. Cổ phiếu ưu đãi hoán đổi là loại cổ phiếu ưu đãi có quyền được hoán đổi thành một loại cổ phiếu khác theo sự lựa chọn của cổ đông, thường thì đổi lại thành cổ phiếu phổ thông. |
Cổ phiếu thu nhập cố định
Người nắm giữ cổ phiếu thu nhập cổ định là những người cho vay của công ty hơn là cổ đông. Những người nắm giữ cổ phiếu thu nhập cố định không có quyền trong công ty nằm ngoài phạm vi thanh toán lãi cho các khoản vay của họ hoặc thanh toán các khoản vay phù hợp với điều khoản đã được ban hành. Cổ phiếu thu nhập cố định có thể được thế chấp hoặc không với cổ phiếu thu nhập cố định thế chấp được xếp trước loại không thế chấp. Cả hai loại cổ phiếu thu nhập cơ bản này là các khoản giấy nợ và cổ phần cho vay.
a. Khoản giấy nợ/cổ phần ghi nợ
Khoản giấy nợ gần giống như khoản thế chấp. Nó là một khoản cho vay dài hạn được đảm bảo vào việc thế chấp tài sản cố định hoặc lưu động của một công ty. Cổ phần ghi nợ là một khoản giấy nợ được phát hành như là cổ phần lãi cố định. Những cổ phiếu như thế được phát hành dựa trên niềm tin và trong trường hợp bên vay không thể thanh toán nổi vốn và lãi, người nắm giữ giấy nợ có quyền chỉ định người quản lý tài sản bán tài sản của công ty và đảm bảo thanh toán lại các khoản vay.
b. Cổ phần cho vay
Cổ phiếu cho vay là một loại cổ phiếu được công ty ban hành đối với khoản cho vay của nhà đầu tư. Không như khoản giấy nợ, cổ phần cho vay có thể được thế chấp hoặc không, có thể hoán đổi hoặc không, nhưng thường thì lại không thế chấp.
| |
i. Cổ phần cho vay không thế chấp có tính rủi ro cao hơn nhiều so với khoản giấy nợ, và trong trường hợp thanh toán, người nắm giữ cổ phần cho vay được xếp cùng hạng với tất cả những người cho vay không thế chấp khác.
ii. Cổ phần cho vay hoán đổi được quyền hoán đổi thành cổ phần phổ thông của công ty theo những điều khoản đã được ấn định trước và trong một khoảng thời gian giới hạn. Mục đích của việc phát hành cổ phiếu cho vay hoán đổi là nhằm đạt được lãi suất cố định ở mức lãi suất tương đối thấp và đồng thời thu hút những người nắm giữ tiềm năng bằng cách tạo cơ hội tham gia góp vốn sau đó.
iii. Giấy báo: có cả cổ phiếu tu nhập cố định với ngày đến hạn thanh toán, và có thể được mua lại hoặc không.
iv. Trái phiếu: cũng như khoản giấy nợ, trái phiếu là cổ phiếu thu nhập cố định được phát hành cho những người cho vay các khoản vay dài hạn với thời hạn thanh toán cụ thể. |
Tại sao lại nên đầu tư vào chứng khoán?
Đầu tư chính là hoạt động dùng tiền sinh ra tiền. Đầu tư vào chứng khoán được khẳng định là một trong những hình thức đầu tư mang lại lợi nhuận nhất.
Những lợi ích mà nó đem lại như:
| |
| Mua/Bán nhanh chóng vì thế bạn có thể bán một phần đầu tư của mình bất cứ lúc nào |
| Chi phí giao dịch thấp |
| Tự do làm việc bất cứ nơi nào và vào thời gian nào bạn muốn |
| Dễ dàng giám sát – có thể đăng nhập vào thị trường bất cứ nơi nào trên thế giới. |
| Có thể tối đa hóa lợi nhuận trong khi trong khi vẫn dàn trải rủi ro |
| Các hình thức đầu tư có thể tiên đoán được nếu bạn biết mình đang làm gì |
| Kiểm soát chính bản thân và không phải chi trả chi phí quản lý quỹ |
|
Cần phải lưu ý một số yếu tố sau:
| |
| Thị trường có thể không ổn định |
| Bạn phải hiểu rõ mình đang làm gì |
| Bạn phải giám sát các khoản đầu tư của mình |
| Bạn phải nắm rõ các nguyên tắc để đi vào và thoát ra khỏi thị trường theo sự chỉ dẫn vào hoặc ra. |
|
Liệu người bình thường có thể tạo ra được lợi nhuận từ thị trường chứng khoán không?
Nhiều người thường hay nói rằng “tôi rất thích tham gia vào thị trường chứng khoán” hoặc “nếu tôi có thêm tiền, tôi sẽ đầu tư vào chứng khoán”. Nhiều người cũng tin rằng để tạo được lợi nhuận từ thị trường chứng khoán bạn hoặc phải giàu có, hoặc phải là một nhà giao dịch đầu tư chuyên nghiệp hoặc là một nhà tài chính.
Thực sự thì điều đó hoàn toàn không cần thiết phải như vậy
Am hiểu thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là nơi mà cổ phiếu của công ty được mua và bán, đem lại cho công ty những lựa chọn để tiếp cận vốn, nhà đầu tư và cơ hội để sở hữu cổ phiếu của công ty và thụ hưởng những lợi ích tiềm năng từ chính hoạt động tương lai của công ty.
Thị trường chứng khoán đem lại cho con người khả năng tạo ra những nguồn thu nhập riêng ngoài những công việc hàng ngày, hoặc những nguồn thu nhập cao hơn nguồn thu nhập từ khoản gửi tiết kiệm truyền thống. tuy nhiên trước khi bạn có thể nghĩ về việc mua và bán cổ phiếu, nạ phải hiểu được những nguyên tắc nền tảng về thị trường chứng khoán và giao dịch.
Trong lần đầu tiên, các nhà đầu tư có thể dễ nhầm lẫn bởi vì các thuật ngữ được sử dụng để mô tả những chức năng thị trường khác nhau. Không phải mất quá nhiều thời gian để học, chỉ cần nhấn vào đây để tham khảo một số thuật ngữ giao dịch cổ phiếu cơ bản. Nhân đây có thể lấy một ví dụ, đó là sự nhầm lẫn thường thấy đối với thuật ngữ “stocks” và “shares”. Thực chất, cả hai từ trên đều có nghĩa giống nhau và có thể được sử dụng thay thế cho nhau.
Tăng vốn trên thị trường chứng khoán
Các công ty thành lập ra thị trường chứng khoán với mong muốn tăng cường vốn cho hoạt động kinh doanh của họ. Khi một ai đó phát biểu rằng họ có một công ty niêm yết, điều đó có nghĩa là họ chỉ đến Sàn Giao Dịch Chứng Khoán Thành Phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Trung Tâm Giao Dịch Chứng Khoán Hà Nội (HaSTC). Tất cả các công ty đều cần tiền mặt để tận dụng các cơ hội phát triển. Tuy nhiên nhiều công ty mới bắt đầu luôn tự thấy mình luôn thiếu vốn để mở rộng. Một cách để đạt được tiền mặt là thả nổi thị trường một cách công khai. Điều này bao gồm cả phần bán đi của công ty cho các cá nhân và nhà đầu tư các công ty có thể tự do trao đổi cổ phiếu trên thị trường mở. Mua bán cổ phiếu ở một công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán được thực hiện thông qua đề xuất phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO)
Một khi IPO được ban hành, bạn có thể liên lạc với công ty (điện thoại, fax hoặc email) để yêu cầu thông tin giới thiệu công ty và hoàn tất đơn yêu cầu phân chia cổ phiếu. Nếu không bạn có thể đợi đến khi công ty được thả nổi và mua cổ phiếu trên thị trường mở. Bên cạnh đó HOSE và HaSTC, các nhà môi giới chứng khoán cũng sẽ có những thông tin liên quan đến IPO.
Các công ty đã được niêm yết cũng có thể tăng thêm tiền trên thị trường chứng khoán bằng cách mang lại cho những người nắm giữ cổ phiếu hiện tại có hội được mua thêm cổ phiếu trong công ty.
Khi bạn mua cổ phiếu, bạn đang mua một cổ phiếu trong công ty và như thế bạn đã sở hữu một phần trăm nào đó của công ty đó. Khi công ty tạo ra được lợi nhuận, bạn được chia sẻ lợi nhuận đó dưới hình thức cổ tức. Tiêu biểu là số cổ phiếu được phát hành nhân lên với giá cổ phiếu cho chúng thấy được công ty đó trị giá bao nhiêu.
Vai trò của người môi giới
Để có thể mua và bán cổ phiếu ở HOSE và HaSTC, bạn cần phải làm việc với một người môi giới đã đăng ký hành nghề là thành viên của HOSE và HaSTC. Bạn không thể giao dịch trực tiếp với HOSE và HaSTC vì chỉ có người môi giới mới có quyền truy cập trực tiếp vào thị trường.
Người môi giới đóng vai trò như là đại lý của bạn – rất giống như đại lý môi giới địa ốc.
Người môi giới kiếm được một khoản hoa hồng trên giá trị cổ phiếu bạn giao dịch – cũng giống như môi giới địa ốc kiếm được một phần hoa hồng từ việc mua và bán nhà cho người khác.
Người môi giới cũng có thể tham gia vào danh mục niêm yết của một công ty mới bằng cách bảo lãnh sự thả nổi và quảng bá sự thả nổi đến một nhóm khách hàng của họ.
Đọc hiểu báo cáo thị trường
Với tư cách là một nhà giao dịch chứng khoán, bạn sẽ bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến lĩnh vực kinh doanh trong các báo địa phương. Hầu hết làm nổi bật phần bình luận giá cả trên thị trường chứng khoán vào ngày gần nhất của ngày trước đó. Trong phần này, bạn sẽ lượt qua một số mô tả sau:
| Giá cao nhất của năm |
-giá cao nhất của một cổ phiếu nhất định trong năm |
| Giá thấp nhất của năm |
- giá thấp nhất của một cổ phiếu nhất định trong năm |
| Mã cổ phiếu |
- một hệ thống bảng chữ cái duy nhất để nhận biết một loại cổ phiếu nhất định. |
| Máy đếm cổ phiếu |
-cổ phiếu niêm yết trên HOSE và HaSTC |
| Giá cuối ngày |
- giá cuối ngày của một cổ phiếu nhất định cho một ngày nhất định |
| +/- |
-ký hiệu tăng hoặc giảm của giá cổ phiếu cho một ngày nhất định |
| +/-% |
- ký hiệu phần trăm tăng hoặc giảm của giá cổ phiếu |
| Đơn vị giao dịch |
- cổ phiếu thường được giao dịch trên các bảng giao dịch gồm 10 đơn vị đối với HOSE và 100 điểm đối với HaSTC; bảng giao dịch sẽ cho biết số đơn vị giao dịch trong một ngày nhất định. |
| Giá cao nhất của ngày |
- giá cao nhất của cổ phiếu trong một ngày giao dịch nhất định |
| Giá thấp nhất của ngày |
- giá thấp nhất của cổ phiếu trong một ngày giao dịch nhất định |
| Phân chia cổ tức |
- chia cổ tức là một phương pháp định giá trị cổ phiếu. Nó được tính như sau:
Cổ tức bằng tiền mặt trên mỗi cổ phiếu = Cổ tức
GGiá cổ phiếu trên thị trường
|
| P/E Ratio(Tỷ lệ giá/lãi) |
-thông tin đạt được sẽ giúp bạn có thể so sánh được hoạt động của công ty này với hoạt động của các ngành khác và từ thời điểm này với thời điểm khác. Công thức là:
Giá thị trường hiện tại = Tỷ lệ giá/ lãi
LLãi trên mỗi cổ phiếu
|
| Lãi trên mỗi cổ phiếu |
- số tiền lãi của công ty có thể quy vào mỗi cổ phiếu phổ thông của công ty đó |
| M Cap(Market Capitalisation/ Vốn hóa thị trường) |
- cho thấy tổng giá trị cổ phiếu của một công ty được niêm yết dựa trên giá thị trường hiện tại. Công thức tính như sau:
GGiá trên thị trường của cổ phiếu x Số cổ phiếu được phát hành
|
| Tài sản thuần trên mỗi cổ phiếu |
- xác định giá trị tài sản bù cho cổ phiếu của công ty. Công thức được tính như sau:
Tài sản thuần của công ty
Số cổ phiếu phổ thông trong tài sản thuần của công ty
|
Đọc hiểu phần diễn biến thị trường chứng khoán trong các báo là một công việc rất dễ dàng. Bạn chỉ cần đọc nó vài lần cho đến khi bạn cảm thấy thoải mái khi đọc nó.
Am hiểu các Chỉ số
Chỉ số thị trường chứng khoán là một con số đơn lẻ được tính từ giá của nhiều loại cổ phiếu khác nhau. Chỉ số (Index) còn được gọi là (indices) khi bạn nói hơn một chỉ số. Chỉ số được sử dụng như khung chuẩn cho hoạt động của danh mục vốn cổ phiếu như quỹ chung.
Một vài quỹ đầu tư (quỹ chỉ số) quản lý danh mục đầu tư của chúng để mà mọi hoạt động của quỹ có thể theo dõi mọi hoạt động của chỉ số thị trường chứng khoán hoặc một khu vực thị trường chứng khoán.
Ví dụ, khi bạn nghe ai đó nói rằng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2005 tăng 3% tương đương với 109,1điểm so với 105,9 cùng kỳ năm ngoái. Điều này muốn nói lên sự thay đổi giá bán lẻ được trả bởi mỗi người tiêu dùng cho hàng hóa và dịch vụ tăng lên trong thời gian đó. CPI được dành để cung cấp một phương thức đánh giá rõ ràng những thay đổi của giá bán lẻ.
Chỉ số là một công cụ giúp các nhà đầu tư có thể đánh giá được hoạt động của một nhóm các cổ phiếu từ một thị trường xác định. Nó có thể hình thành một khung chuẩn cho các danh mục đầu tư được quản lý chủ động hoặc bị động trên một thị trường nhất định. Trở thành một phần của chỉ số cũng là một ký hiệu tượng trưng cho các công ty hợp thành và giao dịch cổ phiếu hợp thảnh rõ ràng hỗ trợ cho giá cổ phiếu. Chỉ số cũng cho phép việc tạo ra các sản phẩm đầu tư đêm lại cho các nhà đầu tư cơ hội được thâm nhập vào thị trường hoặc một nhóm cổ phần có thể giúp họ hoạt động trên thị trường có đầy những rào cản đầu tư.
Chỉ số thị trường chứng khoán có thể được xếp loại theo nhiều cách. Chỉ số mở rộng thể hiện sự hoạt động của cả thị trường chứng khoán – và phản ảnh các nhà đầu tư nhận thấy như thế nào về nền kinh tế. Chỉ số thị trường thường được niêm yết nhất là chi số mở rộng bao gồm cổ phần của một số công ty lớn được niêm yết trên thị trường chứng khoán lớn nhất của một quốc gia ví dụ như American Dow Jones Industrial Average và S&P 500 Index, British FTSE 100, French CAC 40, the German DAX và Japanese Nikkei 225.
Sử dụng chỉ số
Chỉ số chứng khoán phát triển hơn 20 năm qua để trở thành hơn là chỉ số kinh tế (dụng cụ điều tiết thị trường) và với sự phát triển không ngừng trên thị trường tài chính, các chức năng chuyên môn của chỉ số được đưa lên hàng đầu.
CChỉ số chứng khoán được các nhà đầu tư và các nhà quản lý quỹ sử dụng như là một trong rất nhiều công cụ để đánh giá tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán. Việc ứng dụng chỉ số hiện nay rộng rãi hơn nhiều, bao gồm việc sử dụng chỉ số như là điểm chuẩn cho so sánh danh mục các nhà đầu tư và những thành phần cơ bản của sản phẩm tài chính, ví dụ Quỹ Giao Dịch Chứng Khoán (ETFs) và những sản phẩm phát sinh khác.
Các loại cổ phiếu
Có những loại cổ phiếu nào?
Cổ phiếu phổ thông :
Khi mua một cổ phiếu phổ thông, bạn đã sở hữu một phần của công ty. Do đó bạn có quyền được hưởng lợi tức từ việc điều hành của công ty dưới hình thức cổ tức. Trong đại hội cổ đông thường niên (AGM), bạn có quyền biểu quyết. Cổ phiếu phổ thông là cái mà bạn sẽ bắt đầu giao dịch và hầu hết những nhà giao dịch không bao giờ dám mạo hiểm qua nó.
Tuy nhiên, còn có một số loại cổ phiếu khác
Cổ phiếu ưu đãi :
Cổ phiếu ưu đãi khác với cổ phiếu phổ thông. Những người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi nhận được cổ tức trước khi cổ tức cổ phiếu phổ thông được thông báo. Nếu công ty được thanh toán hết, người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi được xếp trên người nắm giữ cổ phiếu phổ thông trong quá trình phân phối tài sản. Cổ phiếu ưu đãi thường có thể có mức cổ tức cố định.
Phát hành cổ phiếu thưởng :
Đây là việc phát hành cổ phiếu miễn phí cho cổ đông dựa trên số cổ phiếu ma cổ đông đó đã sở hữu.
Phát hành cổ phiếu quyền ưu tiên:
Cổ phiếu quyền ưu tiên được phát hành cho cổ đông để mua cổ phiếu trong công ty thường với giá thấp hơn giá thị trường.
Cổ phiếu phát sinh :
Còn có chứng từ chứng khoán mà bạn có thể giao dịch trên thị trường mà giá của nó phát sinh ra từ cổ phiếu gốc. Hiện có hai loại chứng từ cổ phiếu phát sinh: cổ phiếu tùy chọn và chứng nhận cổ phiếu. Nói chung chúng được hiểu là cổ phiếu phát sinh.
Có hai bên liên quan trong hợp đồng cổ phiếu tùy chọn, bên phát hành hoặc bên bán, bên nhận hoặc bên mua. Bên phát hành ghi cổ phiếu tùy chọn và có nghĩa vụ chấp thuận hoặc phân phát cổ phiếu. Bên nhận có quyền, nhưng không phải nghĩa vụ mua hoặc bán cổ phiếu.
Giao dịch cổ phiếu tùy chọn có rất nhiều ưu điểm, chỉ ít là lực đẩy. Một cổ phiếu tùy chọn có thể được mua hoặc bán chỉ với một phân số nhỏ của giá cổ phiếu, đem lại lãi cao hiệu quả (hoặc thua lỗ) từ khoản đầu tư cho việc dịch chuyển giá cổ phiếu.
Chứng nhận cổ phiếu :
Như cổ phiếu tùy chọn, chứng nhận cổ phiếu xuất giá từ cổ phiếu gốc. Mặc dù chứng nhận cổ phiếu được phát hành bởi ngân hàng và các tổ chức tài chính và được phân loại dựa trên liệu chúng có mục đích giao dịch hay đầu tư hay không.
Chứng nhận cổ phiếu có thể được phát hành qua chứng khoán, danh mục chứng khoán, chỉ số giá cổ phiếu, tiền tệ hoặc hàng hóa.
QUY TẮC VÀNG
1. Khởi động cùng kế hoạch tài chính
Giao dịch chứng khoán phải được xem là một hoạt đông kinh doanh. Nó đòi hỏi phải có thời gian, hiểu biết và tài chính để có thể thành công. Kế hoạch tài chính của bạn sẽ thể hiện con đường đi đến thành công của bạn.
Xác định mục tiêu tài chính của bạn
Nếu như bạn đã 60 tuổi và đang tìm kiếm nguồn tiền mặt để hỗ trợ cho việc sắp nghỉ hưu của mình, nghiễm nhiên ưu tiên của bạn sẽ là tạo ra một nguồn thu nhập hơn là tăng giá trị tài sản.
Nếu bạn chỉ 25 tuổi và bắt đầu muốn đầu tư, thì bạn sẽ ưu tiên tăng vốn hơn là tìm nguồn thu nhập.
Mục tiêu tài chính của bạn sẽ quyết định liệu bạn có giao dịch cổ phiếu thanh lý hay không.
Xác định mức độ rủi ro
Xác định mức độ rủi ro và các hình thức đầu tư mà bạn có khả năng thực hiện. Hãy nhớ rằng lãi càng cao bao nhiêu thì rủi ro càng lớn bấy nhiêu.
Mức rủi ro thấp
Tôi thực sự không yên tâm lắm với rủi ro và sẽ đầu tư vào cổ phiếu bảo đảm vốn/lãi cố định (trái phiếu chính phủ, các khoản tiền gửi ngân hàng)
Mức rủi ro trung bình
Tôi có thể chấp nhận được một mức độ rủi ro vừa phải (cổ phiếu đảm bảo trong lĩnh vực Tài chính, Ngân hàng).
Mức rủi ro cao
Tôi yên tâm với rủi ro mà mình sẽ phải đương đầu. Tôi đang tìm kiếm mức lãi suất cao và sẵn sàng sớm đánh giá các công ty trong giai đoạn tăng trưởng (các công ty được niêm yết gần đây).
Bạn xoay tài chính cho việc đầu tư như thế nào?
Hầu hết chúng tôi không có nguồn tiền tiết kiệm lớn sẵn có. Giải pháp chung là sử dụng giá trị tài sản mà chúng tôi có để tạo ra nguồn tài chính cho danh mục đầu tư cổ phiếu.
Đa phần các ngân hàng lớn cho vay cở sở vật chất. Đây chính là điểm mà bạn có thể bắt đầu danh mục đầu tư với các khoản tiết kiệm và sau đó sử dụng danh mục này như một khoản thế chấp nhằm mượn thêm tài chính để mua thêm cổ phiếu.
Trong hầu hết các trường hợp, vấn đề không đạt được tài chính để bắt đầu danh mục đầu tư, nó yêu cầu có kiến thức đầu tư một cách tự tin.
2. Khai Thác Chiến Lược Quản Lý Rủi Ro
Với bất kỳ đầu tư gì, cho dù nó có là giao dịch chứng khoán, địa ốc hay hoạt động kinh doanh thông thường, rất quan trọng để bạn hiểu được những rủi ro nào mà bạn có thể gặp phải và làm thế nào để tối thiểu hóa khả năng phải đương đầu với những rủi ro đó. Quá trình này được gọi là “Quản Lý Rủi Ro”.
Ba yếu tố của quản lý rủi ro
a. Phân tán rủi ro: Không để xảy ra hiện tượng một ăn cả hai ngả về không
Phân tán rủi ro đơn giản được hiểu theo cách không bỏ tất cả trứng vào một giỏ. Đây được gọi là việc đa dạng hóa danh mục đầu tư.
Phân tán vốn vì thế sẽ không bao giờ có hơn 20% trong một cổ phiếu đơn thuần.
Bảng sau cho thấy sự tác động của việc đầu tư quá nhiều vào một cổ phiếu đơn thuần. Nếu như cột bên trái thể hiện phần trăm lỗ vốn, thì cột bên phải cho thấy mức lãi cần có trong giao dịch tiếp theo để hòa vốn.
Bảng phục hồi vốn
| % Lỗ vốn |
% Lãi cần có |
| 30 |
43 |
| 40 |
67 |
| 50 |
11 |
| 60 |
25 |
| 70 |
43 |
| 80 |
67 |
| 90 |
43 |
Tuy nhiên không nên nhìn nhận vấn đề này một cách cực đoan hay quá đa dạng hóa bằng cách đầu tư quá nhiều vào cổ phiếu cùng một lúc. Bạn không thể trong mong vào việc làm cho thị trường khá lên nếu như danh mục đầu tư của bạn gắn chặt vào thị trường. Quy tắc ngón tay cái nhằm giới hạn danh mục đầu tư của bạn từ 5 đến 10 cổ phần.
b. Tìm ra lối thoát riêng: Như thế nào là rủi ro có thể chấp nhận được?
Những người giao dịch không chuyên mua cổ phiếu và mục tiêu của họ là trong mong giá của nó sẽ tăng lên. Nếu giá giảm xuống, họ vẫn tiếp tục nắm giữ với hy vọng giá cổ phiếu sẽ phục hồi. Khi những người giao dịch chuyên nghiệp mua cổ phiếu, người ta nhận thức được rằng sự thành công chính là xác suất chứ không phải là sự chắc chắn. Vào thời điểm thực hiện giao dịch, những người giao dịch chuyên nghiệp sẽ thiết lập giá thoát khỏi rủi ro ngay từ ban đầu. Nếu giá cổ phiếu rơi ra khỏi điểm này thì một nhà đầu tư giỏi ngay lập tức sẽ thoát ra khỏi giá đó và không bao giờ để phải rơi vào tình trạng thua lỗ nặng.
Duy trì vốn là yếu tố nền tảng dẫn đến quá trình giao dịch thành công. Nếu bạn đầu tư vào cổ phiếu và thua lỗ nặng, thì trước sau không thể kiếm được lợi nhuận từ thị trường chứng khoán. Khi phải chịu thua lỗ nặng thì giờ đây bạn sẽ phải kiếm ra một nguồn lợi nhuận lớn để đạt đến điểm hòa vốn. Chìa khóa để đạt đến được giao dịch thành công là phải duy trì mức lỗ thấp.
c. Ngăn chặn thua lỗ: Đừng quá liều lĩnh
The second must sell signal is a Stop Loss. Just tracks the highest price reached by the share since purchase. If the share falls by more than 10% from this price, it is time to sell. We suggest 10% - you can change this depending on your trading style. Too small a percentage and it will get you out too early. Make the percentage too large and you give back too much of your profits before exiting. Start with a 10% fall and see what you feel comfortable with.
Dấu hiệu phải bán ra thứ hai chính là ngăn chặn lỗ. Hãy theo dõi thời điểm giá cổ phiếu cao nhất kể từ khi mua. Nếu cổ phiếu rớt xuống hơn 10% so với giá này, đó là thời điểm phải bán đi. Ở đây chúng tôi đề xuất 10%, bạn có thể thay đổi tùy thuộc vào phương thức giao dịch của bạn. Với phần trăm định nhỏ bạn sẽ phải bán sớm. Định phần trăm quá lớn, bạn phải trả lại lợi nhuận của mình trước khi thoát.Hãy bắt đầu với 10% để xem bạn có cảm thấy hài lòng hay không.
3. Luôn thực hiện giao dịch theo xu hướng phát triển
Xu hướng phát triển là nền tảng quan trọng cho mọi hoạt động giao dịch. Nếu giá cổ phiếu tăng lên thì chúng ta có thể kiếm được tiền bằng cách mua cổ phiếu đó. Nếu như giá cổ phiếu giảm xuống, chúng ta cần phải tìm kiếm cơ hội khác vì mua cổ phiếu giảm giá chẳng có ý nghĩa gì. Mục tiêu mà chúng ta hướng đến phải luôn luôn đơn giản – tìm đến cổ phiếu đang ở trên xu thế tăng giá và mua một số lượng lớn cổ phiếu đó vào khoảng giữa thời gian của xu thế phát triển đó.
Thế mạnh thị trường chung
Quan sát thị trường tổng thể vận hành như thế nào là điều quan trọng. Điều này có thể được đánh giá bằng cách quan sát 150 cổ phiếu đứng đầu, nói cách khác là cổ phiếu thông thường. Nếu như cổ phiếu thông thường này tăng giá, đó là do cổ phiếu ở danh sách 150 cổ phiếu đứng đầu tăng lên và thị trường đang ở trên đà đi lên.
Có hơn 300 công ty được niêm yết ở HOSE và HaSTC mà bạn có thể đầu tư vào. Để khảo sát mỗi công ty một sẽ mất rất nhiều thời gian. Thay vào đó bạn có thể giao dịch với xu thế và tìm ra những khu vực kinh tế phát triển mạnh trên thị trường.
Thế mạnh của một khu vực kinh tế
Khu vực kinh tế là gì?
Một khu vực kinh tế là một nhóm các công ty trong cùng một khu vực kinh tế. Ví dụ, các công ty khai thác mỏ được cùng xếp vào một nhóm khu vực kinh tế sản xuất vật chất trong khi đó các công ty dịch vụ ngân hàng được xếp vào khu vực kinh tế tài chính. Toàn bộ các khu vực kinh tế nói chung bị ảnh hưởng bởi các điều kiện kinh tế vì thế toàn bộ các khu vực kinh tế có xu hướng phát triển cùng một hướng. Các xu hướng không có quy luật chặt chẽ và cứng rắn, mỗi cổ phiếu trong các khu vực này sẽ hoạt động ở những mức độ khác nhau.
Thế mạnh của cổ phiếu trong một khu vực kinh tế
Mặc dù quy luật chung của các nhà đầu tư mới vào nghề là mua cổ phiếu trên đà đi lên, có nhiều người thì lại mua cổ phiếu đang ở đà giảm sút như là một chiến lược riêng. Đây là quá trình mua thêm cổ phiếu khi giá đang giảm xuống, vì thế giá trung bình của cổ phiếu được giảm xuống cho mỗi lần mua. Hình thức săn cổ phiếu hời là một chiến lược nhiều rủi ro hơn, bởi vì giá cổ phiếu có thể không phục hồi. Thứ hai là giá có thể rơi xuống và sau đó bình ổn trở lại, điều đó có nghĩa là nhà đầu tư có thể phải đợi trong một khoảng thời gian trước khi hồi phục thua lỗ hoặc tạo ra lợi nhuận. Trong tình hình này, vốn được sử dụng cho việc giao dịch tạo ra lợi nhuận sẽ có thể không mang lại hiệu quả nào.
Những phản ứng đối với loại hình giao dịch này không còn mới mẻ. Một trong những nhà giao dịch nổi tiếng nhất của thế kỷ qua, Jesse Livermore đã viết “
Ngày nay bạn nên hiểu rằng giao dịch theo xu thế có vai trò then chốt dẫn đến thành công. Bên cạnh đó, mục tiêu của chúng ta là không bao giờ bán cổ phiếu khu xu thế đang xuống và mua khi xu thế đang lên. Chúng ta đơn giản chỉ có nhu cầu mua số lượng lớn giữ kỳ xu thế này. Hãy luôn để xu thế định hướng giao dịch của bạn.
4. Không nên Mua và Nắm giữ
Thị trường chứng khoán Mã Lai là một trong những thị trường mạnh nhất và gần như là thị trường năng động nhất trên thế giới.
Trong khi thị trường hồi phục dần từ sự sụt giảm, thì công ty lại không được cho là như vậy. Thậm chí trong suốt thời kỳ thị trường bùng phát, một vài công ty có thể vẫn chịu lỗ lớn.
Chỉ giao dịch trên cổ phiếu có xu hướng đi lên và bán đi những cổ phiếu đi xuống trên thị trường, điều này có thể giúp sẽ không phải chịu lỗ lớn nào. Đây chính là bí quyết để cho thị trường hoạt động tốt hơn và đạt được lãi suất cao hơn một cách vững chắc.
Đảm trách một số nghiên cứu về HOSE và HaSTC hoặc trong một số báo đầu tư của địa phương. Liệt kê 3 cổ phiếu cho thấy suy giảm gần đây và 3 cổ phiếu cho thấy tăng lên gần đây.
5. Chỉ giao dịch cổ phiếu có tính thanh khoản
Tham khảo vào cột lô đã giao dịch trong báo cáo thị trường. Đây là một lượng tiền cổ phiếu được giao dịch trên thị trường trong ngày. Nếu bạn nhân chúng lên với giá của nó, bạn có thể hiểu được rằng bạn sẽ có bao nhiêu tiền trong tay cho ngày hôm đó. Nếu số lượng tiền lớn thì cổ phiếu có tính thanh khoản cao, điều đó có nghĩa là dễ dàng mua và quan trọng hơn nữa là dễ dàng bán. Điều cuối cùng mà bạn muốn khi bạn mua một cổ phiếu là phải chú tâm vào nó bởi vì bạn không thể tìm ra người mua.
6. Phát triển kế hoạch giao dịch của riêng bạn
Giao dịch luôn có tính xác suất, chứ không phải là có tính chắc chắn. Kế hoạch giao dịch thiết lập ra hàng loạt các biện pháp nhằm đảm bảo xác suất thành công cao hơn.
Kế hoạch sẽ phải đưa ra kim chỉ nam cho các quá trình sau:
Lựa chọn cổ phiếu để mua
Quyết định thời gian mua
Quyết định thời gian bán
Kết cấu kế hoạch giao dịch của bạn
Thị trường phát triển mạnh
Trước khi quyết định mua cái gì, đầu tiên phải xác định liệu thị trường có nằm trong giai đoạn phát triển tích cực hay không. Nếu chỉ số của VN Index và chỉ số thị trường của HaSTC có dấu hiện tiêu cực trong vài tuần gần đây (hoặc lâu hơn), thì đây không phải là thời điểm tốt để thâm nhập vào thị trường. Nếu đa phần cổ phiếu giảm giá hoặc dặm chân tại chỗ thì xác suất mà bạn mua cổ phiếu tăng giá trong tương lai gần là rất thấp.
Khu vực kinh tế phát triển mạnh
Đợi đến khi thị trường bước vào giai đoạn tăng trưởng, hãy xác định liệu có bất kỳ khu vực kinh tế nào phát triển mạnh trong vài tuần vừa qua. Có những khu vực mà cổ phiếu của nó phát triển rất tốt và giá liên tục tăng.
Nghiên cứu cổ phiếu ở những khu vực kinh tế phát triển mạnh và quyết định những loại cổ phiếu nào đang ở đà đi lên, điều đó có nghĩa là giá của cổ phiếu tăng dần ít nhất trong vòng 3 tháng.
Những cổ phiếu này sẽ có khả năng tăng liên tục bởi vì chúng tạo ra những quan điểm nhận xét thị trường tích cực. Nếu chúng có tính thanh khoản cao, bạn có thể đưa bất kỳ cổ phiếu nào vào danh mục đầu tư của bạn và phải đảm bảo được rằng bạn có thể thoát ra khỏi rủi ro ở bất kỳ thời điểm nào một cách đúng lúc.
Chiến lược thoát hiểm
Khi lựa chọn loại cổ phiếu để đưa vào danh mục đầu tư của bạn, bạn phải lập ra một chiến lược thoát hiểm trong trường hợp cổ phiếu này có dấu hiệu xoay chiều. Đơn giản là nên đặt ra một mức giá thoát hiểm ngay từ ban đầu nhằm đảm bảo rằng cổ phiếu mà bạn mua không bị lỗ.
Trên đây là phần mô tả sơ lược về kế hoạch giao dịch. Nó bao gồm những khái niệm cơ bản của việc lựa chọn cổ phiếu có tính xác suất tăng giá và quản trị rủi ro cao để bảo toàn vốn của bạn. Ba yếu tố trên chính là chìa khóa để đi đến thành công trong giao dịch chứng khoán.